..:: ĐẠI CƯƠNG VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG HOA KỲ ::..

Kể từ cuộc khủng hoảng nhiên liệu giữa thập niên 70, thị trường lao động của cả thế giới bị ảnh hưởng, giao động liên tục, kể cả  nước có truyền thống gắn bó keo sơn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động như Nhật Bản cũng phải thay đổi truyền thống này để đối diện với một thực tế  rất nghiệt ngã là chẳng có công việc nào chắc chắn, bền vững cả; vì rằng bản thân các công ty, bất luận quy  mô lớn nhỏ đều phải  sẵn sàng  điều chỉnh để đáp ứng với những biến chuyển đa dạng và liên tục của  thị trường.

Thị trường lao động ở Hoa Kỳ không là một ngoại lệ tuy nhiên, là một quốc gia đã mở mang, đã công nghệ hoá thì những khó khăn cũng có những đặc thù riêng của nó. Tuy Hoa Kỳ có một tỷ lệ cao về thành phần tham gia lao động đủ ngành nghề nhưng khuynh hướng toàn cầu ngày nay đã và đang gây một trở ngại không nhỏ trong nỗ lực tạo công ăn việc làm cho dân chúng do cường độ  cạnh tranh khốc liệt dành thị phần đã đẩy các công ty Hoa Kỳ trong một số ngành nghề đến khuynh hướng chuyển công tác sản xuất về những quốc gia ở phía nam lãnh thổ và về Châu Á, nơi mà nguồn nhân lực và thù lao trả cho lao động là một lợi thế, giúp các nhà sản xuất hạ giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho họ tồn tại và phát triển trên thương trường. Sự kiện này được xác nhận bởi sự tăng vọt về đầu tư ngoài nước của tất cả công ty Hoa Kỳ  từ 468 đến 827 tỉ Mỹ kim giữa  các năm, 1997 và 1999. Hoa Kỳ mất trắng 3 triệu công việc do ảnh hưởng của thoả ước NAFTA và những hiệp ước thương mại khác, trong số đó có 750,000 công việc thuộc ngành may mặc trong ba thập niên cuối của thế kỷ 20. Ngoài lãnh vực sản xuất, nhiều công ty Hoa Kỳ còn sử dụng lao động ngoài nước trong các lãnh vực liên quan đến dịch vụ văn phòng, dịch vụ khách hàng (call center), lập trình viên vi tính, v.v…Thí dụ, công ty Hoa Kỳ American Express di dời tất cả hoạt động dịch vụ chăm sóc khách hàng của họ từ hai thành phố Minneapolis và St. Paul của bang Minnesota sang Ấn Độ và Ái Nhĩ Lan. 

Ngoài việc phải  đối diện với những khó khăn ở trên, thị trường lao động ở Hoa Kỳ nói chung vẫn phải khắc phục sự thiếu hụt về nhân lực ở một số ngành nghề, nhất là lãnh vực nông nghiệp.  Trước giai đoạn kỹ nghệ hoá và công nghệ hoá,  đại đa số dân chúng Hoa Kỳ vẫn tham gia lao động nông nghiệp, vẫn tập trung sống ở nông thôn. Sau giai đoạn này, người dân đổ về những thành phố lớn để mưu sinh, và thị trường lao động nông nghiệp lao đao từ đấy cho đến khi chính phủ cho chào đời  Đạo luật Di Trú và Quốc Tịch của năm 1952 với một chương trình nhập khẩu lao động  H-2A  phi “quota” rộng rãi (tham khảo chi tiết chương trình này ở trang “Chương trình Lao động Nông nghiệp H-2A”).

Không nơi nào trên thế giới mà quyền lợi người lao động được bảo vệ chặt chẽ như ở Hoa Kỳ. Một phần vì nước này nổi tiếng về  kiện tụng, bất cứ một mâu thuẫn hay tranh chấp gì người ta cũng có thể đưa nhau ra toà được; trong lãnh vực tranh chấp lao động, phán quyết của toà án thường có lợi cho người lao động nhiều hơn so với người sử dụng lao động. Hành lang pháp lý trong lãnh vực lao động của Hoa Kỳ rất rạch ròi và đầy đủ, một thành quả của  phong trào nghiệp đoàn trong những tháng ngày Hoa Kỳ kỹ nghệ hoá nền kinh tế của mình.  Do đó, ngay cả người nước ngoài đến làm việc ở Hoa Kỳ cũng được pháp luật bảo vệ, nhất là những lao động sang Hoa Kỳ làm việc theo chương trình nông nghiệp H-2A. Một chương trình với dày dặc những văn bản pháp quy, ràng buộc người sử dụng lao động phải đãi ngộ người lao động với những quyền lợi thành văn, không thể không thực hiện vì nếu người sử dụng lao động không chấp hành đồng nghĩa với việc vi phạm pháp luật. Nhiều biện pháp chế tài  khắc nghiệt của chính phủ đã khiến việc thực hiện chương trình H-2A trở nên nghiêm túc hơn, theo thời gian.

Về chủ trương xuất khẩu lao động, một đặc thù quan trọng phải kể đến là tính nhân bản, qua đó chương trình giúp cho công dân đủ điều kiện tham gia thị trường lao động ngoài nước để cải thiện cuộc sống. Lao động Việt Nam, với tư chất cần cù, chịu khó và thông minh, chắc chắn sẽ duy trì và phát huy được uy tín làm việc, tạo niềm tin cho người sử dụng lao động Hoa Kỳ, dễ dàng thuận lợi cho những lớp lao động Việt Nam đến sau.  Lao động tại Hoa Kỳ rất đơn giản; người lao động chỉ cần cống hiến nghiêm túc sức lao động của mình, tuân thủ luật pháp nước sở tại, nội quy nơi công tác và trở về Việt Nam sau khi hợp đồng hết hạn thì việc trở lại Hoa Kỳ để tiếp tục làm việc theo những hợp đồng về sau luôn luôn thuận lợi , dễ dàng khi đi xin thị thực nhập cảnh Hoa Kỳ.  Người sử dụng lao động ở Hoa Kỳ có thói quen, như bao người sử dụng lao động khác trên thế giới, là rất muốn mướn trở lại những lao động đã từng làm tốt công việc của mình. Việc còn lại tuỳ thuộc hoàn toàn nơi người lao động, hãy chứng minh sự cống hiến của mình để được đãi ngộ xứng đáng và dài lâu.

Nhiều năm qua, với những nỗ lực tập trung vào định hướng này, Tập đoàn đã thành công trong công tác xác định được một số đối tác tại Hoa Kỳ, có quy mô hoạt động tầm cỡ, có khả năng cung ứng dồi dào lượng lao động ngoài nước đến Hoa Kỳ làm việc, trong những ngành nghề khác nhau, từ đơn thuần gieo trồng, gặt hái trong nông nghiệp đến những lãnh vực đòi hỏi chuyên môn cao. Và, đáng kể nhất là cơ hội mở rộng thị trường lao động, không chỉ ở Hoa Kỳ mà ở cả Canada và các nước khác trên thế giới.

Phương châm làm việc của Tập đoàn AVI Holdings Inc. là thành tín và trách nhiệm.  Điều này không chỉ thể hiện với đối tác Hoa Kỳ mà còn cả với người lao động Việt Nam.  Khi lao động Việt Nam đến Hoa Kỳ, trách nhiệm của AVI là người bạn đồng hành với người lao động để sẵn sàng hỗ trợ, giải quyết những khó khăn người lao động có thể gặp phải trước, trong và sau khi người lao động đã thực hiện tốt hợp đồng.  Nói chung, chỉ cho đến khi người lao động đã trở về đến Việt Nam an toàn thì trách nhiệm của AVI mới kết thúc.   Ngoài ra, thành tín còn là một điều kiện không thể thiếu để đảm bảo được rằng  các quy trình được tuân thủ và thực thi nghiêm túc, để khẳng định và xác định thiện chí và quyết tâm của Tập đoàn đưa chương trình đến sự thành công toàn vẹn bằng việc bảo vệ đầy đủ quyền lợi của người lao động Việt Nam; đồng thời đảm bảo với chủ sử dụng lao động tại Hoa Kỳ rằng tất cả lao động được xét tuyển có đầy đủ kỹ năng và lý lịch tốt theo đúng yêu cầu.